Thứ Tư, ngày 16 tháng 12 năm 2009

Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây sắn

Question

1. Quy luật sinh học của cây sắn?
2.

01. Quy luật sinh học của cây sắn. Nắm vững quy luật sinh học của cây sắn là rất quan trọng để thu hoạch lúc sắn có năng suất củ tươi cao nhất và hàm lượng bột cao. Ở miền Bắc Việt Nam do có mùa đông lạnh, sắn thường nên thu hoạch khoảng 11-12 tháng sau trồng. Tại các tỉnh phía Nam, sắn thường được thu hoạch khoảng 10 tháng sau trồng.

- Sắn nảy mầm khoảng 10-15 ngày sau trồng, nếu đất đủ ẩm và nhiệt độ thích hợp. Những rễ sắn đầu tiên nẩy sinh từ các đốt hom thân khảong 5-7 ngày sau trồng. Sau đó, mầm sắn phát triển và mọc thành cây con. Hai tháng đầu, rễ sắn sinh trưởng mạnh hơn thân lá. Hai tháng kế tiếp thân lá sinh trưởng mạnh. Chỉ số diện tích lá đạt cao nhất sau 4-6 tháng trồng, tùy thuộc giống, đất đai thời vụ và mức độ đầu tư. Từ tháng 5-6 trở đi, củ bắt đầu phát triển mạnh. Thân và cành sắn hóa gỗ dần. Lá mới được nẩy sinh nhưng tốc độ ra lá chậm lại, lá cũ rụng dần. Bột được tích lũy về củ. Duy trì sự xanh lâu của bộ lá là một yếu tố giúp sắn quang hợp tốt để nâng cao năng suất. Cuối chu kỳ sinh trưởng của năm thứ nhất, sắn bước vào thời kỳ nghỉ: Lá sắn còn lại một ít trên cây và bột đã vận chuyển hết về củ. Kéo dài thời kỳ nghỉ, lượng bột dự trữ trong củ bị tiêu hao và giảm dần.

- Sang chu kỳ sinh trưởng năm thứ hai, cành lá mới nảy sinh và phát triển mạnh mẽ trở lại nhưng chỉ số diện tích lá không bằng năm trước. Tinh bột trong củ đựơc huy động nuôi cây nên hàm lượng tinh bột giảm. Cuối chu kỳ sinh trưởng năm thứ hai, cây sử dụng lá trở lại và bột được tích luỹ ở củ.

02. Các thời kỳ sinh trưởng và phát triển:
- Sắn được chia làm 4 thời kỳ sinh trưỏng phát triển: Thời kỳ sinh rê và mọc mầm; thời kỳ phát triển hệ rễ; thời kỳ phát triển thân lá; thời kỳ phát triển củ.
A. Thời kỳ sinh rễ và mọc mầm :
- Trong điều kiện khí hậu thuận lợi (nhiệt độ 20OC - 35OC, ẩm độ đất đạt 70-80% độ ẩm tối đa đồng ruộng) sau trồng 3-5 ngày sắn bắt đầu mọc rễ đầu tiên và tiếp tục mọc cho đến ngày thứ 15-20. Từ ngày thứ 8-10 sau trồng sắn bắt đầu mọc mầm. Khi thời tiết không thuận lợi như khô hạn kéo dài sau trồng (nhiệt độ >40 OC; Ẩm độ đất < 60%), sắn mọc mầm và sinh rễ con chậm, 12-15 ngày mới mọc mầm. Sắn khó sinh rễ trên các mắt đốt . Tùy theo đặc điểm thời tiết khí hậu và điệu kiện sinh thái cụ thể của từng vùng mà lưa chọn thời vụ trồng thích hợp nhất.
- Trên hom sắn sinh hai loại rễ: rễ ở mô phân sinh (rễ mô sẹo /rễ trên mặt cắt / rễ gốc) và rễ từ mắt hom dưới đất (rễ bên). Hai loại rễ này không khác nhau về cấu tạo và đều có thể phát triển thành củ. Nhưng thực tế, đa số củ được hình thành là rễ của mô phân sinh vì những rễ này được tập trung nhiều dinh dưỡng, nên phân hoá thành rễ dầy nhiều sẽ có cơ hội hình thành củ nhiều. Rễ bên đa số là rễ con mảnh, làm chức năng hút nước và dinh dưỡng là chủ yếu. Trong kỹ thuật chặt hom xiên vừa phải không ảnh hưởng tới mắt hom và trồng đúng thời vụ sẽ có nhiều củ.
- Số mầm trên thân phụ thuộc vào cách đặt hom và chất lượng hom: Đặt ngang hom sắn sẽ có nhiều mầm hơn hom đứng. Hom bảo quản tốt không bị xốp hoá ở giữa hom thì sắn dễ mọc, mầm khoẻ và nhiều mầm. Thời kỳ này kéo dài khoảng 2-3 tuần.
B. Thời kỳ phát triển hệ rễ.
- Đặc điểm thời kỳ phát triển hệ rễ là phát triển nhanh và mạnh cả về số lượng và chiều dài. Rễ mới sinh ra hướng sâu dần xuống đất và dài ra, làm nhiệm vụ hút nước giúp cho các hoạt động sinh hoá để mầm và rễ sinh trưởng. Rễ con được sinh ra một thời gian, chúng được phân hoá thành những rễ dầy và rễ mảnh. Rễ dầy chủ yếu là rễ ở mô phân sinh. Những rễ dầy gặp điều kiện thuận lợi về thời tiết và dinh dưỡng dễ dàng phân hoá thành củ, phát triển song song với mặt đất. Các rễ mảnh đâm sâu hơn xuống đất để làm nhiệm vụ cung cấp nước và phần ít dinh dưỡng nuôi cây.
- Thời kỳ phát triển hệ rễ, tốc độ phát triển thân lá còn chậm. Thân mầm sinh trưởng chủ yếu dựa vào chất dự trữ trong hom. Khi chất dự trữ đã cạn kiệt sẽ làm mầm sinh trưởng chậm lại, lá nhỏ và chuyển màu vàng. Điều này xãy ra khoảng 20 ngày đến 1 tháng sau trồng. Trong kỹ thuật thâm canh, cần cung cấp bổ sung dinh dưỡng (bón thúc lần một) khoảng 20 ngày đến 1,0 tháng sau trồng đối với giống sắn ngắn ngày và bón sau trồng 1,0-1,5 tháng cho giống sắn dài ngày.
C. Thời kỳ phát triển thân lá.
- Đặc điểm chủ yếu của thời kỳ này là hệ rễ đã phát triển đầy đủ. Rễ củ đã hình thành và tượng tầng hoạt động mạnh. Đối với những giống ngắn ngày thì củ đã phát triển và bắt đầu tích luỹ chất khô sớm hơn so với giống dài ngày.
- Tốc độ phát triển thân lá mạnh dần. Thân vươn cao khoảng 4cm /ngày và hoá gỗ dần trở lên cứng cáp.Thời gian từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 6 sắn sinh trưởng mạnh nhất. Lá và diện tích lá tăng nhanh, quang hợp mạnh và tích luỹ vật chất khô cao. Diện tích lá biến động từ 50-400 cm2/lá. Diện tích lá không chỉ phụ thuộc vào khả năng cung cấp phân bón, chăm sóc mà còn phụ thuộc vào giống. Chỉ số diện tích lá tháng thứ 4 đạt khoảng 3,0 - 3,5, tháng thứ 6 đạt 4,5 - 5,0.ở mức cao nhất. Tuổi thọ trung bình của lá: 40-140 ngày, làm tăng tuổi thọ lá sẽ làm tăng năng suất.
- Sự phân cành sắn cũng được hình thành trong thời kỳ này. Mức độ phân cành là tùy thuộc giống và điều kiện sinh thái Cuối thời kỳ phát triển thân lá, sắn bắt đầu ra hoa. Không phải tất cả các giống sắn đều có hoa. Tập tính ra hoa của sắn phụ thuộc vào giống và điều kiện sinh thái nơi trồng: Vùng nóng ấm và biên độ ngày và đêm cao sắn ra nhiều hoa hơn vùng lạnh và vĩ độ cao. Sắp xếp thời vụ để sắn sinh trưởng thân lá trong điều kiện có mưa; tuyển chọn giống sắn có dạng hình lý tưởng, cung cấp đủ nước.và chất dinh dưỡng là những điểm kỹ thuật cần lưu ý của thời kỳ này.

D. Thời kỳ phát triển củ.
- Theo Williams (1974): Thời kỳ phát triển củ thì song song với việc giảm tốc độ sinh trưởng của thân lá và các rễ hút, rễ con . Trong thời kỳ này thân sắn hoá gỗ mạnh, tốc độ ra lá chậm lại. Những lá phía dưới hoá già và rụng dần. Những giống sắn có năng suất cao thường có tuổi thọ lá dài.
- Tốc độ lớn của củ chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn 1- 3 tháng sau trồng là hình thành củ, tốc độ củ lớn chậm; Giai đoạn 4-7 tháng sau củ lớn rất nhanh; Giai đoạn 8-10 tháng sau trồng, củ tích lủy bột; tốc độ củ lớn chậm dần.
- Trọng lượng củ phụ thuộc lớn vào giống sắn, kỹ thuật trồng trọt, điều kiện ngoại cảnh Những cây sắn lưu niên già, các bó mạnh gỗ ở củ hoá gỗ mạnh, nên củ nhiều xơ và xơ cứng. Năng suất ở sắn lưu niên thường cao hơn sắn một năm tuổi, nhưng phẩm chất củ giảm do nhiều xơ.

03. Quan hệ giữa sinh trưởng thân lá và phát triển củ.
- Năng suất sắn không chỉ phụ thuộc vào khả năng quang hợp của cây mạnh hay yếu, lượng chất khô tạo ra nhiều hay ít, mà còn phụ thuộc vào khả năng vận chuyển vật chất khô về củ. Thân lá sinh trưởng quá mạnh do mưa nhiều hoặc bón quá nhiều đạm hoặc bón đạm quá muộn sẽ ức chế vận chuyển vật chất xuồng củ. Mật độ trồng quá dầy làm lá phía dưới bị che khuất ánh sáng, vật chất khô trong những lá đó bị tiêu hao cho quá trình hô hấp, lượng chất khô huy động về củ sẽ ít. Bón phân N:P:K.không cân đối cũng hạn chế quang hợp và sự vận chuyển vật chất khô về củ…
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa sinh trưởng thân lá và phát triển rễ củ, tuyển chọn giống và điều hòa chỉ số thu hoạch HI hợp lý (năng suất củ:năng suất sinh vật) để đạt được năng suất cao

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét